Tin Tức

NHỮNG LƯU Ý KHI GIÁM ĐỐC THẨM BẢN ÁN

Những vấn đề cần lưu ý đối với Giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là xét lại Bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có căn cứ theo quy định của pháp luật. Việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật chỉ được thực hiện khi có một trong các căn cứ sau đây:

Căn cứ Giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật:

“1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:
a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;
b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;
c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.
2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.”.

Quy định về căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nêu trên tại Bộ luật tố tụng là điều kiện tiên quyết. Tuy nhiên, một yếu tố không kém phần quan trọng chính là thời hạn pháp luật cho phép để kháng nghị Giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Đây chính là mốc thời gian các đương sự hoặc các bên có liên quan phải có yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm đến người có thẩm quyền.

Quy định về thời hạn yêu cầu Kháng nghị Giám đốc thẩm:

“1. Trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, nếu phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định đó thì đương sự có quyền đề nghị bằng văn bản với người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này để xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.
2. Trường hợp Tòa án, Viện kiểm sát hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khác phát hiện có vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật thì phải thông báo bằng văn bản cho người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này.
3. Chánh án Tòa án nhân dân cấp tỉnh kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao hoặc Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao kiến nghị Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nếu phát hiện có căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này.”.

Quy định về thời hạn để các đương sự đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đến người có thẩm quyền là 01 năm. Tuy nhiên, cần hết sức lưu ý, đây là thời gian tối đa và được tính từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

Với quy định như vậy, nếu đương sự có phát hiện ra căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm nhưng ở thời điểm sau 01 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật thì cũng không còn quyền nộp đơn yêu cầu kháng nghị giám đốc thẩm. Đây chính là vấn đề nan giải và bất cập cho đương sự, bởi có khi sau rất nhiều thời gian thì căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm mới được phát hiện.

Thẩm quyền Giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật:

Ngoài ra, thẩm quyền giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật cũng cần được chú ý, bởi hiện nay cơ quan Tòa án có thẩm quyền  giám đốc thẩm bản án, quyết định phải là Ủy ban thẩm phán Tòa án cấp cao trở lên. Cụ thể như sau:

“1. Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị như sau:
a) Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Ủy ban thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm ba Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
2. Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị như sau:
a) Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán đối với bản án, quyết định của Tòa án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm;
b) Toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật quy định tại điểm a khoản này nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng Hội đồng xét xử gồm năm Thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án.
3. Những vụ án có tính chất phức tạp quy định tại điểm b khoản 1 và điểm b khoản 2 Điều này là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
b) Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;
c) Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.
4. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định việc tổ chức xét xử giám đốc thẩm trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
5. Trường hợp những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự cùng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.”.

Căn cứ quy định về thẩm quyền thực hiện kháng nghị Giám đốc thẩm, thì bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án Nhân dân cấp huyện (là cấp Tòa án xét xử thấp nhất) sẽ thuộc Ủy ban thẩm phán của Tòa án cấp cao. Như vậy, Tòa án cấp tỉnh không có quyền thực hiện thủ tục kháng nghị Giám đốc thẩm. Đương sự cần lưu ý vấn đề thẩm quyền để không nhầm lẫn, tránh mất thời gian một cách không đáng có.

Cần lưu ý và xem xét thấu đáo vụ việc trước khi yêu cầu kháng nghị Giám đốc thẩm:

Trên đây là một số vấn đề cần lưu ý trong quá trình thực hiện thủ tục nộp Đơn yêu cầu kháng nghị Giám đốc thẩm đối với Bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án. Trường hợp khách hàng cần tư vấn, tìm hiểu một cách chi tiết, cụ thể căn cứ, thủ tục, quy trình hoặc trợ giúp pháp lý trong việc yêu cầu kháng nghị Giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với luật sư của chúng tôi theo các thông tin sau:

Công ty Luật Dương Khôi Minh
Địa chỉ: Số nhà 7-9, Ngõ 87 Phố Yên Duyên, P. Yên Sở, Q. Hoàng Mai, Hà Nội.
Hoặc qua số điện thoại Hotline: 0904.680.383 – 0904.680.383.

5/5 - (2 bình chọn)