Tin Tức

TRÁCH NHIỆM KHI XẢY RA TAI NẠN LAO ĐỘNG

Trách nhiệm khi xảy ra tai nạn lao động

Tai nạn lao động là trường hợp có sự cố xảy ra trong quá trình làm việc và làm ảnh hưởng đến sức khỏe hoặc tính mạng của người lao động. Theo quy định tại Mục 8-Điều 3 của Luật vệ sinh, an toàn lao động thì: “Tai nạn lao động là tai nạn gây tổn thương cho bất kỳ bộ phận, chức năng nào của cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động, xảy ra trong quá trình lao động, gắn liền với việc thực hiện công việc, nhiệm vụ lao động”.

Chúng ta cần hiểu rằng, tai nạn gây ra tổn thương cho người lao động phải xảy trong quá trình lao động và gắn liền với công việc, nhiệm vụ lao động. Nếu người lao động bị tai nạn ngoài quá trình lao động hoặc thực hiện hành vi khác không liên quan đến nhiệm vụ của người lao động (kể cả đang trong giờ làm việc) thì cũng không thể coi là tai nạn lao động.

Trách nhiệm của người lao động trong quá trình làm việc:

Khi tai nạn lao động xảy ra, người lao động chính là đối tượng chịu thiệt thòi lớn nhất, nhưng cũng không thiếu trường hợp nguyên nhân dẫn đến tai nạn lao động là do lỗi của người lao động. Theo quy định của Bộ luật lao động, người lao động có nghĩa vụ sau đây:
“a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác;
b) Chấp hành kỷ luật lao động, nội quy lao động; tuân theo sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động;
c) Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động”.

Như vậy, việc tuân thủ đầy đủ quy định tại hợp đồng lao động, nội quy lao động cũng như chấp hành quy định về an toàn, vệ sinh trong quá trình lao động là bắt buộc. Đây là căn cứ đầu tiên để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho người lao động nếu không may có tai nạn lao động xảy ra.

Trách nhiệm của người sử dụng lao động

Người sử dụng lao động là những người thuê mướn, sử dụng người lao động làm việc cho mình dưới hình thức hợp đồng hoặc theo thỏa thuận làm việc với người lao động. Người sử dụng lao động có thể là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức, hợp tác xã, hộ gia đình hoặc cá nhân. Khoản 2- Điều 6 của Bộ luật lao động quy định về trách nhiệm của người lao động:
“a) Thực hiện hợp đồng lao động, thỏa ước lao động tập thể và thỏa thuận hợp pháp khác; tôn trọng danh dự, nhân phẩm của người lao động;
b) Thiết lập cơ chế và thực hiện đối thoại, trao đổi với người lao động và tổ chức đại diện người lao động; thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc;
c) Đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nhằm duy trì, chuyển đổi nghề nghiệp, việc làm cho người lao động;
d) Thực hiện quy định của pháp luật về lao động, việc làm, giáo dục nghề nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và an toàn, vệ sinh lao động; xây dựng và thực hiện các giải pháp phòng, chống quấy rối tình dục tại nơi làm việc;
đ) Tham gia phát triển tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia, đánh giá, công nhận kỹ năng nghề cho người lao động”.

Quá trình sử dụng người lao động làm việc cho mình, người sử dụng lao động có trách nhiệm đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động cho người lao động theo quy định của pháp luật, hợp đồng lao động, tiêu chuẩn hoạt động ngành nghề .v.v. Đây chính là những điều người sử dụng lao động bắt buộc phải thực hiện.

Điều 16 của Luật vệ sinh An toàn Lao động quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động như sau:
“1. Bảo đảm nơi làm việc phải đạt yêu cầu về không gian, độ thoáng, bụi, hơi, khí độc, phóng xạ, điện từ trường, nóng, ẩm, ồn, rung, các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại khác được quy định tại các quy chuẩn kỹ thuật liên quan và định kỳ kiểm tra, đo lường các yếu tố đó; bảo đảm có đủ buồng tắm, buồng vệ sinh phù hợp tại nơi làm việc theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế.
2. Bảo đảm máy, thiết bị, vật tư, chất được sử dụng, vận hành, bảo trì, bảo quản tại nơi làm việc theo quy chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động, hoặc đạt các tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn, vệ sinh lao động đã được công bố, áp dụng và theo nội quy, quy trình bảo đảm an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
3. Trang cấp đầy đủ cho người lao động các phương tiện bảo vệ cá nhân khi thực hiện công việc có yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại; trang bị các thiết bị an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc.
4. Hằng năm hoặc khi cần thiết, tổ chức kiểm tra, đánh giá các yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc để tiến hành các biện pháp về công nghệ, kỹ thuật nhằm loại trừ, giảm thiểu yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc, cải thiện điều kiện lao động, chăm sóc sức khỏe cho người lao động.
5. Định kỳ kiểm tra, bảo dưỡng máy, thiết bị, vật tư, chất, nhà xưởng, kho tàng.
6. Phải có biển cảnh báo, bảng chỉ dẫn bằng tiếng Việt và ngôn ngữ phổ biến của người lao động về an toàn, vệ sinh lao động đối với máy, thiết bị, vật tư và chất có yêu cầu nghiêm ngặt về an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc, nơi lưu giữ, bảo quản, sử dụng và đặt ở vị trí dễ đọc, dễ thấy.
7. Tuyên truyền, phổ biến hoặc huấn luyện cho người lao động quy định, nội quy, quy trình về an toàn, vệ sinh lao động, biện pháp phòng, chống yếu tố nguy hiểm, yếu tố có hại tại nơi làm việc có liên quan đến công việc, nhiệm vụ được giao.
8. Xây dựng, ban hành kế hoạch xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp tại nơi làm việc; tổ chức xử lý sự cố, ứng cứu khẩn cấp, lực lượng ứng cứu và báo cáo kịp thời với người có trách nhiệm khi phát hiện nguy cơ hoặc khi xảy ra tai nạn lao động, sự cố kỹ thuật gây mất an toàn, vệ sinh lao động tại nơi làm việc vượt ra khỏi khả năng kiểm soát của người sử dụng lao động”.

Trách nhiệm khi xảy ra tai nạn lao động sẽ theo quy định của pháp luật.

Từ những quy định của pháp luật, có thể thấy rằng, việc xác định bên nào chịu trách nhiệm khi xảy ra tai nạn lao động sẽ phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Người sử dụng lao động cần tuân thủ cũng như đảm bảo thực hiện đầy đủ các điều kiện vệ sinh, trang thiết bị bảo hộ an toàn lao động cho người lao động. Ngược lại, trong quá trình làm việc, người lao động cần phải tuân thủ đúng nội quy, quy định đảm bảo an toàn, vệ sinh lao động do người sử dụng lao động yêu cầu.

Nếu bên nào không làm đúng quy định của pháp luật, quy định tại nội quy lao động, không tuân thủ việc đảm bảo an toàn vệ sinh lao động thì khi xảy ra sự cố hoặc tai nạn lao động bên đó sẽ phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật, bao gồm cả việc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự; bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra.

Thông tin được chia sẻ bởi các luật sư tư vấn pháp luật lao động của Công ty luật TNHH Dương Khôi Minh, địa chỉ: Số 7-9 Ngõ 87 Phố Yên Duyên, Phường Yên Sở, Quận Hoàng Mai, TP Hà Nội. Số điện thoại Hotline: 0906.238.583 – 0904.680.383.

5/5 - (1 bình chọn)