Quyền thừa kế tài sản là một chế định pháp luật được quy định tại Bộ luật Dân sự, đây là trường hợp một người được hưởng tài sản từ người thân của mình sau khi họ qua đời. Người để lại tài sản thừa kế có thể là cha, mẹ, vợ, chồng, cô, dì, chú, bác, anh, chị, em hay con cháu của người được hưởng tài sản hoặc thậm chí là cả bạn bè. Người được thừa kế tài sản là những người được hưởng tài sản theo nội dung di chúc hoặc theo Pháp luật.
Điều kiện để phát sinh việc thừa kế tài sản và Người thừa kế tài sản
Tuy nhiên, không phải người thân của mình chết là những tài sản của người đó đương nhiên thuộc về những người thân khác. Việc thừa kế tài sản không đơn giản như vậy, cần phải có những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật.
Về di sản: là tài sản còn lại của người đã chết, thừa kế chính là việc nhận được tài sản của người chết để lại, nếu không có tài sản thì sẽ không thể phát sinh việc thừa kế được.
Về người thừa kế: theo quy định tại Điều 613 của Bộ luật Dân sự: “Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế”.
Đây là điều kiện không thể thiếu, bởi nếu người thừa kế không có thì việc thừa kế cũng không thể phát sinh. Người thừa kế có thể là người được thừa kế theo di chúc hoặc theo Pháp luật (đối với trường hợp không có di chúc). Nếu có di chúc thì người thừa kế tài sản sẽ được xác định theo ý chí của người chết. Tuy nhiên, với trường hợp thừa kế theo pháp luật, sẽ phải căn cứ vào hàng thừa kế.
Quy định về Người kế theo Pháp luật tại Bộ luật Dân sự
“1. Những người thừa kế theo pháp luật được quy định theo thứ tự sau đây:
a) Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
b) Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
c) Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
2. Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau.
3. Những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.”
Pháp luật quy định về những người có thể được hưởng thừa kế theo Pháp luật bao gồm nhiều người có quan hệ ruột thịt, họ hàng. Tuy nhiên, Pháp luật chỉ cho người hàng sau được hưởng khi toàn bộ người thừa kế ở hàng trước không còn hoặc những người ở hàng thừa kế trước từ chối nhận di sản. Điều này có nghĩa là dù chỉ còn một người ở hàng thừa kế trước thì toàn bộ tài sản của người chết để lại sẽ thuộc về người đó.
Hiểu rõ về thừa kế tài sản có thể tránh những tranh chấp không đáng có
Việc nắm rõ các quy định về thừa kế tài sản là điều quan trọng, nhiều gia đình xảy ra tranh chấp do thiếu hiểu biết. Nhiều khi những người được thừa kế để cho những người xung quanh can thiệp, xúi giục khiến nội bộ anh em mất đoàn kết, gây ra hiểu lầm trong gia đình. Tài sản thừa kế đôi khi không hẳn là thứ có giá trị lớn mà là những kỷ niệm, những giá trị tinh thần không thể thay thế của người đã chết đề lại cho những người thừa kế.
Trên đây là một số nội dung về thừa kế tài sản cũng như những người được thừa kế tài sản theo quy định của pháp luật. Nếu có những vấn đề vướng mắc liên quan hoặc có tranh chấp; khởi kiện về thừa kế tài sản hoặc lập di chúc; yêu cầu hủy di chúc trái pháp luật. Hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo các thông tin dưới đây:
Công ty Luật TNHH Dương Khôi Minh
Số 7-9, Ngõ 87 Phố Yên Duyên, Yên Sở, Hoàng Mai, Hà Nội
Website: luatduongkhoiminh.com
Hotline: 0906.238.583 – 0904.680.383.
