Tin Tức

THỦ TỤC TÁI THẨM QUYẾT ĐỊNH, BẢN ÁN ĐÃ CÓ HIỆU LỰC PHÁP LUẬT

Thủ tục thẩm bản án, quyết định

 

Trong quá trình giải quyết vụ án, theo quy định của Pháp luật thì có hai cấp xét xử là Sơ thẩm và Phúc thẩm. Sau khi vụ án được Tòa án cấp sơ thẩm xét xử, đương sự có quyền nộp đơn kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nếu không đồng ý với với nội dung bản án, quyết định đó. Thời hạn kháng cáo là 15 ngày, kể từ ngày đương sự nhận được bản án, quyết định (đối với những người không tham gia phiên tòa) hoặc 15 ngày tính từ thời điểm các đương sự được nghe Tòa án tuyên án.

Bản án Phúc thẩm sau khi tuyên án sẽ có hiệu lực ngay lập tức, các đương sự không còn quyền kháng cáo. Vậy, nếu trường hợp phát hiện các nội dung, tình tiết mới mà tại giai đoạn sơ thẩm, phúc thẩm không có thì đương sự sẽ phải làm gì. Đây chính là trường hợp xuất hiện căn cứ đề nghị Tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về Tái thẩm như sau: “Tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, các đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó”.

Muốn yêu cầu tái thẩm bản án, quyết định dã có hiệu lực pháp luật thì cần phải có căn cứ. Đó là các tình tiết mới được phát hiện trong vụ án mà tại giai đoạn xét xử sơ thẩm và phúc thẩm không phát hiện được. Tuy nhiên, phải là những tình tiết có khả năng làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định theo quy định tại Điều 352 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:

“Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.”.

Đương sự sau khi phát hiện ra, cần gửi đơn yêu cầu tái thẩm cùng chứng cứ chứng minh tới người có thẩm quyền. Tình tiết mới cần phải có chứng cứ kèm theo như quy định tại Điều 352 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:

“Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

1. Mới phát hiện được tình tiết quan trọng của vụ án mà đương sự đã không thể biết được trong quá trình giải quyết vụ án;

2. Có cơ sở chứng minh kết luận của người giám định, lời dịch của người phiên dịch không đúng sự thật hoặc có giả mạo chứng cứ;

3. Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Kiểm sát viên cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc cố ý kết luận trái pháp luật;

4. Bản án, quyết định hình sự, hành chính, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của Tòa án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước mà Tòa án căn cứ vào đó để giải quyết vụ án đã bị hủy bỏ.”.

Đến đây, chúng ta thấy việc tái thẩm vụ án không phải dễ dàng, bởi còn phụ thuộc vào việc người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm sẽ nhìn nhận sự việc, tình tiết mới như thế nào. Đương sự chỉ có quyền đưa ra yêu cầu, đề nghị thông qua việc nộp đơn cùng chứng cứ nhưng không có nghĩa việc đó sẽ được chấp nhận ngay lập tức.

Những người có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm được pháp luật quy định tại Điều 354 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, cụ thể:

“1. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định giám đốc thẩm của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

2. Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

3. Người đã kháng nghị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có quyền quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án, quyết định đó cho đến khi có quyết định tái thẩm.”.

Thời gian chờ đợi để vụ án được kháng nghị tái thẩm chính là thách thức trên thực tế đối với bất kỳ đương sự nào. Mặc dù Pháp luật có quy định thời hạn để người có thẩm quyền kháng nghị sau khi biết được căn cứ kháng nghị nhưng về mặt thực tế rất ít vụ việc đúng thời hạn. Đấy cũng là một trong những nguyên nhân khiến đương sự chán nản khi nghĩ đến việc đề nghị tái thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Quá trình hoạt động tư vấn pháp luật, Công ty Luật Dương Khôi Minh đã thực hiện nhiều vụ việc kháng nghị tái thẩm, giám đốc thẩm cho khách hàng, chúng tôi nhận thấy quyết tâm, sự nhẫn nại của khách hàng sẽ là yếu tố quan trọng. Bên cạnh đó, sự tư vấn chính xác về chuyên môn sẽ góp phần quan trọng vào việc yêu cầu kháng nghị thành công bản án, quyết định của Tòa án, giúp khách hàng bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Nếu khách hàng vướng mắc đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực của Tòa án, có nhu cầu thực hiện việc kháng nghị tái thẩm, Quý khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với luật sư theo các thông tin sau:

Công ty Luật TNHH Dương Khôi Minh

Địa chỉ: Số nhà 7-9, Ngõ 87 Phố Yên Duyên, P. Yên Sở, Q. Hoàng Mai, Hà Nội.

Hoặc qua số điện thoại Hotline: 0904.680.3830904.680.383.

Chúng tôi xin trân trọng cám ơn quý Khách hàng đã tin tưởng và sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý của chúng tôi.

5/5 - (1 bình chọn)

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *