Hỏi. Cách đây một tuần, tôi và bạn bè đi liên hoan, nơi chúng tôi ăn uống là một quán bia bình dân nơi có rất nhiều người khác ăn uống ở đó. Chúng tôi ngồi cạnh một dãy bàn cùng với một hội nhóm khác cũng đến ăn liên hoan. Khi đang ăn uống, bạn tôi và một người bên nhóm đó to tiếng với nhau, bạn bè hai bên thấy vậy đã đứng ra can ngăn và sự việc tạm lắng xuống.
Sau khi ăn nhậu xong chúng tôi ra về thì gặp lại ba người trong nhóm lúc trước. Bạn tôi và người kia lại xảy ra to tiếng rồi hai người lao vào đánh nhau. Thấy vậy, tôi vào can ngăn thì bị hai người bên kia cản lại, họ xô đẩy và đấm vào mặt tôi. Tôi cúi xuống né được rồi đấm đá lại hai người kia, vì họ say rượu nên sức khỏe yếu không đánh lại được tôi. Chúng tôi bị công an đưa về trụ sở làm việc vì gây rối trật tự công cộng.
Hôm qua, tôi có nhận được điện thoại của một đồng chí công an nói là tôi đánh một người gãy 2 xương sườn, tôi có thể bị truy tố vì trách nhiệm hình sự vì hành vi cố ý gây thương tích. Tôi muốn hỏi trường hợp của tôi đánh người là do tự vệ thì bị xử phạt như thế nào ?
Luật sư trả lời. Sau khi tiếp nhận nội dung cần giải đáp của bạn, chúng tôi trả lời như sau:
Dựa vào những trình bày của bạn, chúng tôi thấy rằng những người bị đánh là bên gây sự trước với bạn. Tuy nhiên, bạn không nói rõ sau khi bạn đã tránh được hai người kia thì họ có tiếp tục tấn công bạn hay không.
Cần phân biệt phòng vệ chính đáng và vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng
Nếu họ tiếp tục tấn công bạn thì việc bạn đánh lại họ không sai nhưng nếu họ đã dừng lại mà lúc đó bạn tấn cộng họ thì hành vi tấn công của bạn sẽ vượt quá giới hạn của hành động phòng vệ chính đáng được quy định tại Khoản 2- Điều 22 của Bộ luật Hình sự: “Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng là hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Người có hành vi vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật này.”.
Căn cứ quy định pháp luật đối với trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng, có thể thấy người gây thương tích cho người khác trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng sẽ phải chịu trách nhiệm pháp luật như trong trường hợp cố ý gây thương tích cho người khác.
Vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng được coi là hành vi cố ý gây thương tích
Điều 134- Bộ luật Hình sự quy định như sau:
“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn gây nguy hại cho từ 02 người trở lên;
b) Dùng a-xít sunfuric (H2SO4) hoặc hóa chất nguy hiểm khác gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
c) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;
d) Phạm tội 02 lần trở lên;
đ) Phạm tội đối với 02 người trở lên;
e) Đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;
g) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng mình, thầy giáo, cô giáo của mình;
h) Có tổ chức;
i) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
k) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở cai nghiện bắt buộc;
l) Thuê gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe hoặc gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe do được thuê;
m) Có tính chất côn đồ;
n) Tái phạm nguy hiểm;
o) Đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.
3. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.
4. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.
5. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.
6. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:
a) Làm chết 02 người trở lên;
b) Gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên;
c) Gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.
7. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.”.
Trách nhiệm xử lýhành vi cố ý gây thương tích thuộc cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Việc xử lý cụ thể như thế nào sẽ do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định, mức độ hình phạt sẽ căn cứ vào tình tiết, tính chất cũng như hậu quả gây ra bởi hành vi phạm tội. Căn cứ để xác định bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không sẽ phụ thuộc vào kết quả giám định thương tích của người bị thương.
Lúc này, bạn cần có thái độ tích cực với người bị thương, đồng thời hợp tác với phía cơ quan công an để làm sáng tỏ sự việc. Nếu cần tư vấn pháp luật liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích, phòng vệ chính đáng theo quy định của pháp luật hình sự, hãy liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo các thông tin sau:
Công ty Luật TNHH Dương Khôi Minh
Địa chỉ: Số 7-9, Ngõ 87 Phố Yên Duyên, P. Yên Sở, Q. Hoàng Mai, Tp Hà Nội.
Website: luatduongkhoiminh.com
Hotline: 0904.680.383 – 0906.238.583.
