Xét xử Phúc thẩm là một quá trình tố tụng của cơ quan Tòa án, đây là giai đoạn Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại Bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực Pháp luật của Tòa án cấp dưới khi có đương sự kháng cáo hoặc Viện kiểm sát kháng nghị theo quy định của Pháp luật. Kết quả của việc Phúc thẩm bản án sơ thẩm có thể ảnh hưởng lớn đến toàn bộ nội dung giải quyết vụ án.
Tòa án cấp trên trực tiếp không đương nhiên xem xét lại Bản án sơ thẩm
Bản chất của việc kháng cáo hay kháng nghị là do đương sự hoặc Viện kiểm sát cho rằng việc giải quyết vụ án ở cấp Sơ thẩm chưa khách quan hoặc có vi phạm Pháp luật và không đồng ý với nội dung Bản án Sơ thẩm. Việc nộp đơn kháng cáo không nhất thiết phải xuất trình kèm theo chứng cứ chứng minh. Tuy nhiên, không phải đương sự lúc nào cũng có thể thực hiện được việc kháng cáo.
Thời hạn Kháng cáo Bản án sơ thẩm của đương sự theo quy định của Pháp luật
“Thời hạn kháng cáo đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm là 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Đối với trường hợp đương sự, đại diện cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khởi kiện đã tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt khi Tòa án tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày tuyên án.”.
Đối với trường hợp đương sự vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm mà không có lý do chính đáng. Đây là trường hợp đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng phía đương sự vẫn không tham gia phiên Tòa. Trong trường hợp này, đương sự sẽ không được tống đạt Bản án sơ thẩm. Do vậy, thời hạn để kháng cáo là 15 ngày được tính từ ngày Tòa tuyên án, bất kể đương sự có biết được nội dung Bản án hay không.
Thời hạn Kháng nghị bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát
Đương sự dù không kháng cáo Bản án sơ thẩm nhưng nếu xét thấy việc giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm có sai xót hoặc vi phạm pháp luật, Viện kiểm sát có thể kháng nghị Bản án. Thời hạn kháng nghị Bản án của Viện kiểm sát được quy định tại Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:
“1. Thời hạn kháng nghị đối với bản án của Tòa án cấp sơ thẩm của Viện kiểm sát cùng cấp là 15 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 01 tháng, kể từ ngày tuyên án. Trường hợp Kiểm sát viên không tham gia phiên tòa thì thời hạn kháng nghị tính từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được bản án.
2. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp đối với quyết định tạm đình chỉ, quyết định đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm là 07 ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là 10 ngày, kể từ ngày Viện kiểm sát cùng cấp nhận được quyết định.
3. Khi Tòa án nhận được quyết định kháng nghị của Viện kiểm sát mà quyết định kháng nghị đó đã quá thời hạn quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này thì Tòa án cấp sơ thẩm yêu cầu Viện kiểm sát giải thích bằng văn bản và nêu rõ lý do.”.
Căn cứ quy định nêu trên, cần khoảng thời gian sau 30 ngày, kể từ ngày Tòa án cấp sơ thẩm tuyên án để bản án có hiệu lực Pháp luật. Lúc này, quyền kháng cáo của đương sự cũng như quyền kháng nghị Phúc thẩm của Viện kiểm sát đối với Bản án sơ thẩm không còn.
Hậu quả có thể xảy ra của việc Kháng cáo kháng nghị Bản án sơ thẩm
“1. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì chưa được đưa ra thi hành, trừ trường hợp pháp luật quy định cho thi hành ngay.
2. Bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc những phần bản án sơ thẩm, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm thì có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.”.
Thẩm quyền và nội dung Phán quyết của Hội đồng xét xử Phúc thẩm
Bản án bị kháng cáo, kháng nghị Phúc thẩm là bản án chưa có hiệu lực pháp luật, các nội dung phán quyết tại Bản án đó sẽ không được thi hành. Do vậy, phán quyết của bản án cuối cùng có hiệu lực pháp luật có thể khác với nội dung bản án sơ thẩm đã được ban hành. Thẩm quyền của Hội đồng xét xử Phúc thẩm được quy định tại Điều 308 của Bộ luật Tố tụng Dân sự:
“1. Giữ nguyên bản án sơ thẩm;
2. Sửa bản án sơ thẩm;
3. Hủy bản án sơ thẩm, hủy một phần bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm;
4. Hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án;
5. Đình chỉ xét xử phúc thẩm;
6. Tạm đình chỉ việc giải quyết vụ án khi có văn bản của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc bãi bỏ văn bản quy phạm pháp luật có dấu hiệu trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên cho đến khi cơ quan nhà nước có thẩm quyền có văn bản trả lời Tòa án kết quả xử lý.”.
Hiệu lực Pháp luật và ảnh hưởng của Bản án Phúc thẩm
Bản án Phúc thẩm sẽ có hiệu lực ngay sau khi tuyên án, đương sự không còn quyền kháng cáo bản án. Đối với trường hợp Bản án phúc thẩm tuyên hủy đối với Bản án sơ thẩm thì đương sự sẽ phải tiếp tục quay lại Tòa án cấp sơ thẩm để tham gia giải quyết vụ án như từ đầu. Còn ngược lại, nếu Bản án Phúc thẩm giữ nguyên hoặc sửa đổi một phần nội dung Bản án sơ thẩm thì đương sự có quyền lợi sẽ gửi đơn yêu cầu Thi hành án đối với Bản án đã có hiệu lực Pháp luật.
Trên đây là một số nội dung quy định của Pháp luật về kết quả giai đoạn xét xử Phúc thẩm. Nếu gặp các vụ việc tranh chấp pháp lý liên quan đến các lĩnh vực đất đai; hôn nhân gia đình; Hình sự, Lao động; Tín dụng ngân hàng hoặc các lĩnh vực Pháp luật cần khởi kiện hoặc bảo vệ quyền lợi của mình, khách hàng có thể liên hệ trực tiếp với chúng tôi theo các thông tin sau:
Công ty Luật TNHH Dương Khôi Minh
Trụ sở: Số 7-9, Ngõ 87 Phố Yên Duyên, P. Yên Sở, Quận Hoàng Mai, Hà Nội
Website: luatduongkhoiminh.com
Hotline: 0904.680.383 – 0906.238.583.
